GIÁ MÀ 20 NĂM TRƯỚC CÓ NGƯỜI CHỈ MÌNH CÁCH HỌC TIẾNG ANH NÀY…

Mục lục

Phân tích nội dung chi tiết

Tấm bản đồ học tiếng Anh nghe nói

Có một cái bản đồ mà nếu 20 năm trước mình nghĩ đó là mình gặp thầy của mình sớm hơn và ai đó đưa cho mình cái tấm bản đồ đó có lẽ là mình đã không mất quá nhiều thời gian chật vật với cái việc học tiếng Anh nghe nói.

Đoạn văn nhấn mạnh vai trò của việc có định hướng đúng đắn (được ví như ‘tấm bản đồ’) ngay từ đầu. Ngữ pháp nổi bật: Cấu trúc câu điều kiện giả định quá khứ ‘Nếu… có lẽ là đã…’ thể hiện sự tiếc nuối khi mất thời gian loay hoay chật vật (struggle) học nghe nói sai cách.

Thực trạng giỏi ngữ pháp nhưng kém phản xạ

Về cơ bản thì toàn bộ chúng ta đều học tiếng Anh và xử lý về mặt ngữ pháp hoặc là làm bài tập thì khá là tốt. Và nếu bạn đang rơi vào cái tình trạng tương tự như vậy,

Thực trạng phổ biến của người học tiếng Anh: Nắm vững cấu trúc ngữ pháp và làm bài tập viết rất tốt nhưng thiếu kỹ năng ứng dụng vào giao tiếp thực tế.

Bẫy dịch từng từ (Word-by-word) gây chậm phản xạ

Có nghĩa là mình biết khá là nhiều từ vựng và ngữ pháp, mình biết đọc và mình luôn dịch word by word khi mình thấy một cái câu tiếng Anh. Có nghĩa là mình sẽ dịch ở trong đầu bằng cấu trúc ngữ pháp rồi xong tìm những cái từ mà mình quen thuộc rồi mình hiểu nghĩa của nó là gì rồi mình mới đáp lại. Mình chậm cái nhịp của phản xạ.

Cụm từ quan trọng: ‘Word by word’ (dịch từng từ một). Phân tích nguyên nhân chậm phản xạ: Thói quen dịch ngược qua tiếng mẹ đẻ, phân tích ngữ pháp trong đầu trước khi nói làm gián đoạn luồng suy nghĩ tự nhiên.

Vấn đề phụ thuộc vào Subtitle và ảo tưởng về từ vựng

Nhưng mà về cơ bản thì mình nghe tiếng Anh từ người bản xứ phát ra hoặc là xem phim thì mở sub lên thì mình hiểu và mình thấy toàn bộ từ vựng đều là từ quen thuộc. Nhưng mà khi tắt cái sub đi thì mình chả nhận ra nó là cái gì. Thì đến lúc đó mình mới nhận ra vấn đề đó là khả năng nghe nó hạn chế mà cũng chả biết tại sao nó hạn chế. Cứ nghĩ đó là mình không có năng khiếu với cái bộ môn tiếng Anh này mà thôi.

Thuật ngữ: ‘Sub / Subtitle’ (phụ đề). Hiện tượng người học lầm tưởng mình biết từ khi đọc mắt (mở sub), nhưng khi nghe thực tế lại không nhận diện được do chưa lưu đúng phiên bản âm thanh trong não.

Nỗi sợ sai và áp lực lắp ghép từ khi nói

Hoặc là khi nói thì mình cứ ráp từ lại với cấu trúc ngữ pháp và thì nhưng cuối cùng nói ra người ta vẫn chả hiểu là mình đang nói cái gì và nó chậm cái quá trình phản xạ và mình sợ sai rất là nhiều. Thì mình nghĩ đó là tất cả chúng ta đều nên có một cái tấm sơ đồ, một cái tấm bản đồ mà mình gọi đó là cái bản đồ tiếng Anh.

Tâm lý học tập: Việc cố ghép từng từ đơn lẻ với ngữ pháp khiến lời nói ngập ngừng, thiếu tự nhiên, tạo ra tâm lý sợ sai và rào cản khi giao tiếp.

Cơ chế phát âm: Đặt khẩu hình đúng vị trí

Thì tiếng Anh nghe nói nó không phải tự nhiên mà nó có mà nó đi qua từng cái tầng một mà bạn phải có cái kiến thức và bạn hiểu về nó. Đầu tiên là những cái âm cơ bản của tiếng Anh. Ví dụ như cùng một cái chữ nhưng mà nếu cái việc mà bạn đặt khẩu hình nó bị sai và cái việc mà bạn không biết cái âm đó thực sự nó là cái gì và nó được tạo ra như thế nào thì bạn rất dễ đọc theo thói quen của âm thanh tiếng Việt chính là âm thanh tiếng mẹ đẻ của bạn.

Khái niệm kỹ thuật: ‘Khẩu hình’ (mouth positioning/articulation). Phân tích sai lầm: Đặt khẩu hình sai dẫn đến việc áp đặt hệ thống âm thanh tiếng Việt vào tiếng Anh.

Tầng 1: Tai nghe chuẩn và Miệng tạo âm đúng

Cho nên cái tầng đầu tiên phải là tai nghe được cái âm thanh đó mà không được quy đồng nó về là âm thanh tiếng Việt. Miệng của bạn thì phải biết cách để tạo ra cái âm thanh đó như thế nào. Đây là lý do mà mình luôn nói đó là cái bản đồ âm thanh chính là bảng IPA (International Phonetic Alphabet).

Thuật ngữ cốt lõi: ‘IPA’ (International Phonetic Alphabet – Bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế). Đòi hỏi sự phối hợp giữa hai giác quan: Tai phân biệt âm chuẩn và Miệng thực hành phát âm đúng.

Đưa bảng IPA vào tiềm thức phản xạ

Nó không phải để học thuộc lòng như một bản ký hiệu hoặc là học cho biết giống như một vài cái lớp học phát âm mà bạn đã từng trải qua mà nó phải được huấn luyện làm sao để đi vào trong tiềm thức của các bạn để khi bạn sử dụng và phản xạ là bạn có năng lực sử dụng thực sự.

Phương pháp học tập: Chuyển hóa kiến thức lý thuyết (học thuộc lòng IPA) thành phản xạ tiềm thức (subconscious reflex) thông qua việc rèn luyện liên tục.

Kiểm soát cơ quan phát âm để tạo thói quen

Mà là để bạn biết đó là à cái âm này thực sự nghe nó như thế này và miệng phải đặt nó như thế này thì bạn phải kiểm soát được cái chuyện đó thì bạn luyện tập liên tục như vậy thì nó mới tạo ra được cái thói quen về tạo âm từ nó giống y chang như khi mà học tiếng Việt.

Cơ chế hình thành thói quen: Giống như quá trình thụ thanh ngôn ngữ mẹ đẻ, việc làm chủ khẩu hình và luyện tập lặp đi lặp lại sẽ hình thành trí nhớ cơ bắp (muscle memory) trong phát âm.

Quy trình ghép âm (Spelling) chuẩn xác

Khi âm nó đã rõ hơn thì mình bắt đầu ghép nó thành một từ mình spelling mình gọi là mình đánh vần đó thì bạn phải nghe được từng phần rồi bạn ghép lại nguyên âm, phụ âm và nếu ngay từ cái tầng âm nó đã sai đến lúc bạn ghép thành từ thì cả từ cũng dễ bị sai theo.

Từ vựng: ‘Spelling’ (đánh vần/ghép âm), ‘Nguyên âm’ (vowels), ‘Phụ âm’ (consonants). Nguyên lý chuỗi sai số: Sai từ từng âm đơn lẻ sẽ dẫn đến sai toàn bộ từ khi ghép lại.

Lý do xem chữ thì biết nhưng nghe lại không hiểu

Đây cũng là lý do mà có những bạn nhìn từ thì họ thấy quen nhưng mà người bản xứ nói ra thì chúng ta lại không nhận ra cái âm thanh đó là gì vì trong đầu mình đang lưu một cái phiên bản âm thanh khác và hầu như đó là phiên bản âm thanh của tiếng Việt.

Giải mã hiện tượng lệch âm thanh: Não bộ lưu trữ sai phiên bản âm thanh (Việt hóa) nên khi nhận tín hiệu âm thanh chuẩn từ người bản xứ sẽ không khớp được dữ liệu.

Học từ vựng theo cụm thay vì từ rời rạc

Người bản xứ họ không giao tiếp bằng từ vựng rời rạc nên khi học từ vựng rời rạc là họ bị sai cách. Họ nói theo cụm và chúng ta phải quen với cách phát âm của các cái cụm đó khi người bản xứ tạo ra.

Phương pháp Chunking: Học từ theo cụm (phrases/chunks). Giao tiếp tự nhiên luôn vận hành theo cụm từ chứ không phải từng từ đơn lẻ rời rạc.

Hiện tượng nối âm và biến âm trong câu

Vì khi một cụm nó nằm ở trong một câu người ta không còn đọc từng từ đơn lẻ giống như ở trong tiếng Việt tách rời trong từ điển ra nữa. Các cái từ nó sẽ bắt đầu dính vào nhau. Âm cuối của từ này có thể chạy sang từ phía sau và có thể cái âm nó giản lược nhẹ hơn.

Kỹ thuật ngữ âm: ‘Nối âm’ (connected speech / sound linking) và ‘Giản lược âm’ (reduction). Âm cuối (final sound) của từ trước liên kết với âm đầu của từ sau làm thay đổi nhịp điệu câu.

Tầm quan trọng của gốc rễ âm thanh trước khi luyện thi

Đừng nhảy lên học cành hoa lá hẹ kỳ thi này nọ nhưng mà cái nền tảng về âm thanh không có. Nó rất khó để phát triển về sau.

Thành ngữ hình ảnh: ‘Cành hoa lá hẹ’ chỉ những kiến thức nâng cao, mẹo làm bài thi. Lời khuyên: Phải tập trung xây dựng nền tảng âm thanh vững chắc trước khi theo đuổi các chứng chỉ hay kỹ năng phức tạp.

TRỞ LẠI